Phân bón hữu cơ Việt Nam

Thúc Đẩy Sản Xuất Phân Bón Hữu Cơ Việt Nam: Cơ Hội Và Thách Thức

Nông nghiệp hữu cơ đã trở thành một xu hướng trên toàn cầu với diện tích gần 57,8 triệu ha và tiềm năng thị trường trị giá gần 90 tỷ đô la Mỹ. 

Hành trình phát triển nông nghiệp hữu cơ và phân bón hữu cơ Việt Nam cuối cùng đã đưa đến sự hình thành của Hiệp hội Nông nghiệp Hữu cơ Việt Nam (VOAA) trong khuôn khổ cuộc hội nghị phát triển nông nghiệp hữu cơ đầu tiên được tổ chức tại Hà Nội vào tháng 5 năm 2012.

Phân bón hữu cơ Việt Nam

1. SẢN XUẤT PHÂN BÓN HỮU CƠ VIỆT NAM

Ở Việt Nam, phân hữu cơ là phân bón được sản xuất từ các nguyên liệu chính là chất hữu cơ tự nhiên (ngoại trừ chất hữu cơ tổng hợp), sử dụng phương pháp vật lý hoặc sinh học. 

Phân hữu cơ chủ yếu bao gồm chất hữu cơ và dưỡng chất được lấy từ các nguyên liệu hữu cơ (Nghị định số 108/ND-CP). Kết hợp với các nguyên tố dinh dưỡng khoáng hay vi sinh vật có lợi, phân hữu cơ có thể được gọi là phân hữu cơ khoáng hoặc phân hữu cơ sinh học. 

Theo Nghị định số 108/ND-CP, phân hữu cơ phải không chứa Salmonella, trong khi nồng độ E. coli và Coliform phải thấp hơn 1,1 × 103 MPN/g. Nồng độ các kim loại nặng trong phân hữu cơ không vượt quá 10,0 ppm đối với asen, 5,0 ppm đối với cadimi, 200,0 ppm đối với chì và 2,0 ppm đối với thủy ngân. 

1.1. Công nghệ sản xuất phân hữu cơ

Dây chuyền sản xuất phân hữu cơ thường tập trung vào chế biến các chất hữu cơ lên men khác nhau thành phân bón hữu cơ sinh học. Phân bón hữu cơ Việt Nam hiện được sản xuất trong nước theo hai cách: phân bón tự nhiên truyền thống và sản xuất công nghiệp. Phương pháp sản xuất phân bón tự nhiên truyền thống chủ yếu được sử dụng trên quy mô nông trại dựa trên các vật liệu, phế liệu hoặc phần còn lại của cây trồng thu thập từ chăn nuôi và các hộ nuôi trồng.

Phân bón tự nhiên truyền thống mất từ 4-8 tháng để sản xuất phân hữu cơ hoàn thiện, trong đó các chất thải hữu cơ được kết hợp tốt và các nguyên tố khoáng có thể được thêm vào, sau đó lên men thành các mảng phân. 

Sản xuất công nghiệp phân hữu cơ là việc sản xuất phân hữu cơ theo quy mô công nghiệp bằng cách sử dụng công nghệ lên men nhanh. Phương pháp lên men nhanh cung cấp khả năng rút ngắn thời gian xử lý trong vài tuần. Sản xuất phân hữu cơ công nghiệp yêu cầu đầu tư vào cơ sở hạ tầng, dây chuyền thiết bị với khả năng sản xuất lớn. 

Hiện nay, có 180 doanh nghiệp tại Việt Nam được cấp phép sản xuất phân hữu cơ, chiếm 24,5% tổng số giấy phép sản xuất do cơ quan quản lý cấp, với công suất sản xuất khoảng 2,5 triệu tấn/năm, chiếm 8,5% tổng công suất sản xuất phân bón trong nước. 

Ở Việt Nam, phương pháp lên men nhanh được sử dụng từ đầu những năm 2000 dựa trên hướng dẫn của FAO về phương pháp lên men trên nông trại, trong đó phân bón được điều chỉnh với 10% bão hòa ôxy, độ ẩm từ 50 đến 55%, pH từ 5,5 đến 7,0, tỷ lệ carbon-nitơ (C:N) khoảng 20:1, kích thước các vật liệu nguyên liệu từ 5 đến 10 cm. Để phân bón giàu dinh dưỡng, vi sinh vật phân huỷ, nấm men được thêm vào với tỷ lệ 500-1000 g/tấn vật liệu phân bón. 

Phân bón hữu cơ Việt Nam

Ở Việt Nam, có một số công nghệ lên men như ủ phân đống, ủ phân buồng hộp, ủ phân rãnh lộ thiên có quay và sục khí và ủ phân trong bình kín có khuấy và sục khí cơ học. 

Nói chung, đầu tư thiết bị ít hơn có nghĩa là khả năng xử lý các chất thải hữu cơ ít hơn. Các chất thải này cũng cần thời gian lên men lâu hơn để đạt độ chín. Ngược lại, đầu tư thiết bị nhiều hơn có nghĩa là có khả năng và hiệu suất xử lý chất thải hữu cơ cao hơn.

Về cơ bản, các cơ sở sản xuất phân hữu cơ trong nước hiện đầu tư vào các công nghệ sản xuất đơn giản hơn. Các thiết bị cơ bản của dây chuyền sản xuất phân hữu cơ bao gồm máy xúc; máy quay; máy nghiền và sàng lọc; hệ thống sấy khô; hệ thống bơm phụ gia, phun vi sinh; hệ thống cân đóng gói thành phẩm. Hầu hết các thiết bị được sản xuất trong nước. 

Một số cơ sở sản xuất phân hữu cơ từ chất thải, chất thải chăn nuôi và mảnh vụn cây trồng đã đầu tư vào việc lắp đặt các thiết bị tiên tiến từ các nước phát triển như Đức, Bỉ, Hà Lan và Nhật Bản. Các công nghệ sản xuất tiên tiến cho phép rút ngắn thời gian xử lý phân bón bằng cách điều chỉnh chính xác nhiệt độ, độ ẩm và pH của quá trình lên men, kết hợp với vi sinh vật phân giải cellulose để tạo ra sản phẩm phân hữu cơ chất lượng cao. 

Ngoài ra, việc cơ giới hóa và tự động hóa quá trình thu thập, xử lý, cung cấp, nghiền và sàng lọc nguyên liệu; quá trình sấy khô, hạt và đóng gói trên các dây chuyền sản xuất hiện đại cho phép tăng năng suất lao động, công suất sản xuất và giảm chi phí sản xuất.

1.2. Nguyên liệu cho sản xuất phân hữu cơ

Nguyên liệu của phân hữu cơ có thể là chất thải nông nghiệp, chất thải động vật, chất thải công nghiệp, chất thải sinh hoạt, bùn đô thị và than bùn sau khi xử lý và lên men an toàn, những vật liệu này được làm thành phân bón hữu cơ. Như vậy, phân hữu cơ chứa nhiều loại axit hữu cơ, peptit, giàu chất dinh dưỡng gồm đạm, lân và kali.

Không chỉ cung cấp dinh dưỡng toàn diện cho cây trồng, phân hữu cơ còn có tác dụng lâu dài, giúp tăng cường và cập nhật chất hữu cơ trong đất, thúc đẩy sự sinh sản vi sinh vật, cải thiện tính chất vật lý, hóa học và hoạt động sinh học của đất. Nguồn nguyên liệu cho sản xuất phân hữu cơ ở Việt Nam hiện đa dạng và phong phú, bao gồm bao gồm chất thải từ chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, chế biến nông sản, phụ phẩm cây trồng, than bùn và rác thải sinh hoạt. 

Có thể sử dụng vi sinh vật phụ gia, nguyên tố khoáng và các bổ sung sinh học để cải thiện chất lượng và hiệu quả của phân bón. Theo Cục Thống kê Tổng cục Thống kê Việt Nam năm 2015, Việt Nam sản xuất 45,22 triệu tấn gạo, 5,28 triệu tấn ngô, 10,67 triệu tấn sắn, 1,445 triệu tấn cà phê và 18,32 triệu tấn mía đường. 

Dựa trên sinh khối cây trồng và sản phẩm, tính toán chất thải nông nghiệp khoảng 76 triệu tấn bao gồm 45,22 triệu tấn rơm gạo, 8,73 triệu tấn vỏ gạo, 4,04 triệu tấn bã mía đường, 6,33 triệu tấn sản phẩm phụ của ngô, 1 triệu tấn vỏ cà phê và 10 triệu tấn sản phẩm phụ của rau quả.

Chất thải nông nghiệp không chỉ chứa các thành phần carbohydrate và dinh dưỡng cần thiết cho cây trồng như NPK và vi lượng. Cho đến tháng 4 năm 2017, Việt Nam có 2.519.411 con trâu, 5.496.557 con bò, 28.312.083 con lợn và 341.892.000 con gia cầm và ước tính tiết ra khoảng 85 triệu tấn chất thải rắn. Chất thải chăn nuôi có hàm lượng hữu cơ; các nguyên tố đa lượng khoáng khá cao và chứa hầu hết các chất dinh dưỡng trung vi lượng giúp đất phì nhiêu.

Phân bón hữu cơ Việt Nam

Hàng năm Việt Nam xuất khẩu hơn 7 triệu tấn sản phẩm thủy sản và sản xuất hơn 5 triệu tấn phụ phẩm thủy sản có thể làm nguyên liệu sản xuất phân bón hữu cơ. Sản phẩm phụ sau chế biến thủy sản là protein, lipid và nguyên tố vi lượng (Bảng 4). 

Hiện nay, Việt Nam chưa có tiêu chuẩn về nguyên liệu của phân hữu cơ trong các quy định về sản xuất, phân phối và sử dụng phân bón. Sự đa dạng về nguyên liệu và việc sản xuất không được kiểm soát tốt có thể gây ra sự chênh lệch rộng lớn về nội dung dinh dưỡng của phân bón hữu cơ Việt Nam so với phân hữu cơ nhập khẩu. 

Theo một số báo cáo, Việt Nam có khoảng 7,1 tỷ m3 than cám, nhiều mỏ tập trung ở Đồng bằng sông Cửu Long với nồng độ C trung bình là 17,29%, N là 1,2%, P2O5 là 0,16%; K2O là 0,3%; pH: 4,5 và axit humic là 12,8% (Bảng 5). 

Đây là một nguồn nguyên liệu tuyệt vời để cung cấp chất hữu cơ cho sản xuất phân hữu cơ. Ngoài ra, rong biển ven biển Việt Nam là một nguồn giàu kali, vi lượng hoặc quặng lưu huỳnh vôi ở một số tỉnh miền Bắc như Thanh Hóa, Hòa Bình, Thái Nguyên, Bắc Cạn, Lạng Sơn và Cao Bằng là nguồn phosphor và các nguyên tố dinh dưỡng khác trong quá trình sản xuất phân hữu cơ.

1.3. Sản xuất phân hữu cơ và quản lý nhà nước

Theo Sở Bảo vệ Thực vật thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, cho đến tháng 12 năm 2017, tại Việt Nam đã có 713 loại phân hữu cơ, bao gồm phân hữu cơ khoáng và phân hữu cơ sinh học được sản xuất và kinh doanh, chiếm 5% tổng số sản phẩm phân bón. Hiện có 180 công ty được cấp phép sản xuất phân hữu cơ tại Việt Nam, với tổng công suất sản xuất đạt 2,5 triệu tấn/năm, chiếm 8,5% tổng công suất sản xuất phân bón trên toàn quốc. Nhu cầu phân hữu cơ ước tính đạt khoảng 6 triệu tấn/năm và dự kiến sẽ tăng trong tương lai].

Trong giai đoạn 2015-2017, Việt Nam đã xuất khẩu phân hữu cơ sang 34 quốc gia khác nhau, với lượng xuất khẩu năm 2017 đạt khoảng 76.000 tấn, tăng gấp hơn sáu lần so với năm 2015 (12.000 tấn). Năm 2015, chỉ có 17 sản phẩm phân hữu cơ được xuất khẩu, số này tăng lên 56 sản phẩm vào năm 2016 và đạt tổng cộng 75 sản phẩm phân hữu cơ xuất khẩu vào năm 2017. Năm 2015, chỉ có hai doanh nghiệp xuất khẩu phân hữu cơ, số này tăng lên 12 doanh nghiệp vào năm 2016 và đến năm 2017 đã có 19 doanh nghiệp tham gia xuất khẩu phân hữu cơ.

Tính đến hết năm 2016, đã có 24 tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN) được ban hành liên quan đến phân bón hữu cơ, trong đó tập trung chủ yếu vào phương pháp thử xác định mật độ, hoạt tính sinh học của vi sinh vật trong chế phẩm tăng sinh phân bón và hàm lượng các yếu tố giới hạn trong phân bón hữu cơ.

Tuy hệ thống tiêu chuẩn về phân bón nói chung và phân hữu cơ nói riêng đã được xây dựng từ những năm 1990 của thế kỷ trước, nhưng vẫn còn thiếu về số lượng, chất lượng và chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu thực tế. Một số chất liệu sinh học bổ sung trong phân hữu cơ như axit amin, vitamin, chất điều chỉnh tăng trưởng thực vật, v.v. chưa có phương pháp tiêu chuẩn để kiểm tra và kiểm soát chất lượng phân bón.

Một số tiêu chuẩn, đặc biệt là tiêu chuẩn liên quan đến phân hữu cơ sinh học, chưa được xem xét, cập nhật và điều chỉnh phù hợp với thực tế và sự phát triển của ngành sản xuất và quản lý.

Hiện ở Việt Nam có 12 phòng thí nghiệm được phép thử nghiệm các chỉ tiêu chất lượng, các yếu tố giới hạn đối với phân bón hữu cơ và chế phẩm tăng sinh compost. Nhìn chung, các phòng thí nghiệm đều đáp ứng yêu cầu quản lý chất lượng đối với phân bón nói chung và phân bón hữu cơ nói riêng. Tuy nhiên, để nâng cao hiệu quả công tác kiểm soát chất lượng phân bón vẫn còn nhiều vấn đề cần quan tâm. 

Phân bón hữu cơ Việt Nam

Trong những năm qua, Việt Nam đã đạt được một số kết quả nhất định trong việc phát triển sản xuất và sử dụng phân bón hữu cơ. Bên cạnh những kết quả đạt được, ngành phân bón hữu cơ Việt Nam vẫn còn nhiều khó khăn, hạn chế để có thể phát triển hiệu quả và bền vững, đó là:

  • Hiện nay nông dân đang sử dụng phân bón vô cơ vì tính hiệu quả mà chưa quan tâm đến những tác hại lâu dài của việc lạm dụng phân bón vô cơ như thoái hóa đất, ô nhiễm môi trường, tồn dư chất độc hại trong nông sản, v.v.
  • Số lượng doanh nghiệp sản xuất phân bón vô cơ hiện nay cao gấp nhiều lần so với phân hữu cơ, đây là một trong những nguyên nhân gây mất cân đối nghiêm trọng trong sản xuất và sử dụng phân bón.
  • Công nghệ sản xuất phân hữu cơ còn thấp, thiết bị cũ, đơn giản nên hiệu suất, hiệu quả thấp.
  • Chưa có chính sách cụ thể khuyến khích sản xuất và sử dụng phân bón hữu cơ.
  • Chương trình khuyến nông giới thiệu và thúc đẩy sử dụng phân bón hữu cơ chưa được quan tâm đúng mức. Chưa có chương trình cụ thể nào của nhà nước hoặc doanh nghiệp hỗ trợ nông dân sử dụng phân bón hữu cơ.
  • Bộ tiêu chuẩn kiểm định chất lượng phân bón còn chưa hoàn thiện nên còn gặp nhiều khó khăn trong công tác quản lý chất lượng và đăng ký phân bón hữu cơ.

2. CHÍNH SÁCH CỦA VIỆT NAM VỀ SẢN XUẤT VÀ SỬ DỤNG PHÂN BÓN HỮU CƠ

Năm 2018, Bộ NN&PTNT xây dựng chương trình khuyến khích sản xuất và sử dụng phân bón hữu cơ nhằm mục tiêu phát triển phân bón hữu cơ Việt Nam góp phần thúc đẩy sản xuất trồng trọt theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và bảo vệ môi trường. Nó tập trung vào những điều sau đây:

  • Sử dụng hiệu quả các phụ phẩm nông nghiệp để sản xuất phân bón hữu cơ phục vụ trong nước và xuất khẩu;
  • Tăng lượng phân hữu cơ tiêu thụ trong nước ít nhất 3 triệu tấn/năm và xuất khẩu 0,5 triệu tấn/năm;
  • Lựa chọn và áp dụng công nghệ sản xuất phân bón hữu cơ tiên tiến phù hợp với điều kiện Việt Nam;
  • Nâng tỷ lệ sản phẩm phân hữu cơ trong tổng sản phẩm phân bón từ 5% hiện nay lên 10% trong thời gian tới;
  • Khuyến khích, vận động để đảm bảo ít nhất 50% doanh nghiệp sản xuất phân bón trong nước cam kết đầu tư phát triển sản xuất phân bón hữu cơ và hoàn thiện các tiêu chuẩn, phòng thử nghiệm phục vụ quản lý nhà nước về quản lý chất lượng phân bón hữu cơ và bảo hiểm.

Phân bón hữu cơ Việt Nam

Giải pháp thực hiện chương trình khuyến khích sản xuất và bón phân bón hữu cơ Việt Nam được xác định như sau:

  • Chính phủ rà soát các văn bản quy phạm pháp luật về phân bón và phân bón hữu cơ để tạo hệ thống pháp luật quản lý nhà nước về phân bón hữu cơ phù hợp, trong đó có nội dung cụ thể về khuyến khích hơn nữa việc sản xuất và sử dụng phân bón hữu cơ trong Luật trồng trọt và các chính sách hỗ trợ về phân bón hữu cơ. sử dụng đất, thuế, tín dụng cũng như thúc đẩy ứng dụng công nghệ mới. Về lâu dài, cần có chính sách ưu tiên khuyến khích sản xuất và sử dụng phân hữu cơ từ các nguồn nguyên liệu sẵn có từ trồng trọt, chăn nuôi, phế thải chế biến lương thực và các nguyên liệu tự nhiên khác như than bùn, rong biển…
  • Chính phủ xây dựng quy hoạch quốc gia về sản xuất phân bón trên cơ sở cân đối giữa phân bón vô cơ và hữu cơ để thúc đẩy tăng dần tỷ trọng sản xuất và sử dụng phân bón hữu cơ. Trong thời gian tới cần triển khai các dự án khảo sát về tình hình sản xuất và sử dụng phân hữu cơ cho từng vùng trong cả nước, đặc biệt chú trọng nguồn nguyên liệu sẵn có tại địa phương, tính khả thi của việc chuyển giao công nghệ sản xuất tiên tiến, tập quán sử dụng phân hữu cơ… có cơ sở khoa học để xây dựng chiến lược phát triển phân bón hữu cơ.
  • Trên cơ sở kết quả rà soát hệ thống tiêu chuẩn phân bón, các Bộ có trách nhiệm đẩy nhanh việc sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các tiêu chuẩn phân bón hữu cơ phục vụ công tác kiểm soát chất lượng và đảm bảo chất lượng (QC&QA) phân bón hữu cơ. Ngoài ra, hệ thống phòng thử nghiệm cần được rà soát, đánh giá và từng bước nâng cấp đáp ứng yêu cầu theo quy định của pháp luật. Chính phủ sẽ đầu tư cho các phòng thử nghiệm phân bón ở ba miền Bắc, Trung, Nam để kiểm soát chất lượng và đảm bảo chất lượng phân bón và phân bón hữu cơ.
  • Xây dựng và triển khai các chính sách mới khuyến khích, phát triển chuỗi liên kết trong trồng trọt và sản xuất, ứng dụng phân bón hữu cơ cũng như khuyến khích các tổ chức, cá nhân đầu tư nghiên cứu, chuyển giao công nghệ, làm chủ và ứng dụng công nghệ tiên tiến về phân bón hữu cơ sản xuất dựa trên nguồn nguyên liệu sẵn có của Việt Nam.
  • Việt Nam đẩy mạnh nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng công nghệ tiên tiến sản xuất phân bón hữu cơ, ưu tiên công nghệ thân thiện với môi trường, công nghệ sử dụng nguyên liệu, công cụ sẵn có tại địa phương cũng như công nghệ nâng cao hiệu quả sử dụng phân bón hữu cơ… góp phần tăng trưởng bền vững năng suất cây trồng.
  • Về thanh tra, quản lý nhà nước về quản lý chất lượng và đảm bảo chất lượng (QA&QC), Chính phủ sẽ đổi mới công tác thanh tra, kiểm tra, tuân thủ các quy định về quản lý phân bón trong tất cả các khâu từ khảo nghiệm trong phòng, khảo nghiệm đầu bờ, sản xuất, kinh doanh và sử dụng phân bón. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn sẽ tổ chức lực lượng thanh tra chuyên ngành để kiểm tra chất lượng phân bón sản xuất, thương mại hóa, xử lý triệt để các cơ sở sản xuất phân bón không đủ điều kiện sản xuất phân bón hoặc có sản phẩm không được phép thương mại hóa. Các cơ quan có trách nhiệm ở địa phương cần tăng cường kiểm tra, giám sát việc sản xuất, kinh doanh và sử dụng phân bón.
  • Chính phủ sẽ xây dựng tài liệu đào tạo cho các cơ quan quản lý, tổ chức và cá nhân sản xuất, kinh doanh phân bón hữu cơ cũng như tổ chức các khóa đào tạo về việc thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật và kỹ năng quản lý cho chính quyền địa phương có trách nhiệm. Khuyến nông sẽ đổi mới công tác hướng dẫn sử dụng phân hữu cơ thông qua các mô hình thực tế, ngày hội đồng ruộng phối hợp chính quyền địa phương, doanh nghiệp sản xuất phân bón hướng dẫn nông dân sử dụng phân hữu cơ.
  • Về truyền thông, các cơ quan thông tin đại chúng sẽ phối hợp với các hiệp hội phân bón, Hội Nông dân, Hội Làm vườn, các trường đại học, viện nghiên cứu… tuyên truyền, hướng dẫn nông dân sản xuất phân bón hữu cơ truyền thống dựa trên tái sử dụng phụ phẩm nông nghiệp, phân gia súc và hộ gia đình. chất thải cũng như tuyên truyền, nhân rộng các điển hình tiên tiến trong sản xuất, kinh doanh và sử dụng phân bón hữu cơ. Người nông dân cần hiểu vai trò và tác dụng lâu dài của việc sử dụng phân bón hữu cơ thông qua truyền thông.
  • Chính phủ Việt Nam khuyến khích và thúc đẩy hợp tác quốc tế về phát triển phân bón hữu cơ Việt Nam và sẽ tích cực tham gia thị trường phân bón hữu cơ quốc tế. Tăng cường hợp tác quốc tế trong việc chuyển giao công nghệ sản xuất phân bón hữu cơ từ nước ngoài. Việt Nam sẽ tham gia các điều ước, thỏa thuận quốc tế về nông nghiệp hữu cơ và phân bón hữu cơ đa phương và song phương với các nước, tổ chức trong khu vực và trên thế giới.

3. KẾT LUẬN

Việt Nam là một nước nhiệt đới, đã có những bước phát triển và tăng trưởng vượt bậc trong lĩnh vực nông nghiệp, góp phần tích cực vào công cuộc xóa đói giảm nghèo, đảm bảo an ninh lương thực quốc gia và ổn định xã hội trong 30 năm qua. 

Mặc dù nông nghiệp sử dụng phân bón hữu cơ Việt Nam là một trong những ưu tiên của chính phủ, năng lực sản xuất còn cần cải thiện nhiều để đáp ứng được nhu cầu cho nông nghiệp hữu cơ.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *